Thanh tẩy đón năm mới: hương mùi

“Nồi nước mở vung, hơi nghi nhút

Khịt mũi mấy lần đoán mùi thơm

Mẹ bảo hoa mùi khô gác bếp

Tắm vào năm mới sẽ may hơn.” (*)

Hương thơm là tinh túy của thảo mộc, thời Ai cập cổ, người ta coi dầu thơm mang năng lượng sống mạnh gấp 100 lần các loại cỏ thuốc và đã biết dùng hương thơm thảo mộc để chống khuẩn, tác động tới cảm xúc và thể chất, để giảm đau, thư giãn hay kích thích và chữa trị. Những nhà thông linh trong các bộ lạc cổ hiểu biết tác động tinh tế của mùi thảo mộc trong nhận thức và trực giác, có thể chữa lành và cân bằng tâm lý. Người da đỏ châu Mỹ dùng cây Xô thơm [Salvia officinalis] – một loại gia vị nhiều tinh dầu, đốt lên để tẩy trược, trừ tà, trước và sau các buổi chữa bệnh, các lễ cúng Thần linh, trước một buổi thông linh. Rất nhiều nơi, xông cây Thanh cao [Baeckea frutescens] ở gầm giường người bệnh để trừ ám chướng tà ma. Ngoài việc đốt cây khô chứa tinh dầu, người xưa biết xông hơi và chưng cất hơi nước để thu được hương thơm từ thảo mộc. Khi xông hơi, các phần tử siêu nhỏ của tinh dầu dễ dàng thâm nhập vào da, phổi rồi qua mao mạch vào hệ thống tuần hoàn. Dân xứ băng tuyết thì tắm hơi nóng dùng cành lá quật vào người. Người Nga tắm lá Sồi, Bạch dương, Khuynh diệp, Tùng, Tầm ma, Trăn, Anh đào dại, Kim ngân, Thanh lương trà, Phúc bồn tử cho các vấn đề khác nhau, thành hôn, cô dâu chú rể nhất thiết có nghi lễ tắm.

Ở Việt Nam, không rõ phong tục xông và tắm Tất niên bằng cỏ thơm có từ bao giờ và nguồn gốc ở đâu nhưng dân Bắc kỳ ai cũng biết về phong tục này. Những loại cây dùng tắm và xông Tất niên đều có mùi thơm đặc trưng và đều là những vị thuốc tốt. Hương nhu [Ocimum tenuiflorum], Sả [Citronella grass], Lá bưởi [Citrus grandis], Mùi ta khô nguyên rễ [Coriandrum sativum], Cúc tần [Pluchea indica], vùng núi có thêm Dã hương [Cinnamomum camphora]… quyện nhau, ngào ngạt, đặc trưng. Người Việt xưa dùng nước thơm đó tắm và xông hơi nhà cửa để tẩy trừ các mệt nhọc bận rộn của những ngày giáp tết, tẩy trược khí đen đủi của năm cũ để nghênh đón năm mới tinh khôi. Ngẫm đấy, người Việt coi đón năm mới là vô cùng hệ trọng – khởi đầu cho cả hành trình 12 tháng.

Nồng nàn ấy đã phôi pha bởi nồi nước đã thay bằng vòi sen, hương lá đã thay bằng đủ thứ dầu gội, sữa tắm, nước hoa công nghiệp. Không hiện hữu nhưng mùi hương đặc trưng của nồi nước lá vẫn thơm trong hoài niệm của chúng ta. Gia đình tôi vẫn giữ nếp xông nhà bằng nồi nước lá thơm vào chiều tối 30 sau khi chúng tôi dạo chợ hoa lần cuối cùng và sửa soạn để cúng Giao thừa. Ngày thường, tôi xông nhà và cúng dường bằng tinh dầu hoa cỏ, không khi nào dùng nước xịt phòng hay nước hoa công nghiệp.

Trong những truyền thống tốt lành của dân tộc, tục nấu lá thơm tất niên trân quý như một nghi lễ “dọn mình” trước lúc xuân về. Cảm ơn những người nông dân đã trồng và lưu giữ nguồn giống cỏ cây hữu ích đó.

Liên Hương

(*) Thơ “Tắm tất niên”: http://www.thivien.net/Vương-Trọng/Tắm-tất-niên/poem-lxGDMM6XsHKh2vAjO6xdaA

Advertisements

Vị quế – có ai còn nhớ

Quế là loại gia vị đặc biệt với mùi cay nồng và ngòn ngọt, thứ hương mộc mạc và nồng ấm. Hương quế chiết xuất làm tinh dầu hoặc nước hoa thì thanh tao, mà vị quế được dùng cho thức ăn thì mạnh mẽ. Hiếm có loại gia vị nào lại có thể tạo được những hiệu ứng tương phản nhau như vậy. Không giống như sả hoặc mùi, rất hợp với phụ nữ, quế phù hợp với cả hai giới tính.

Tôi là kẻ nghiện ngập thứ hương quế và vị quế. Cái thời tôi còn chưa biết nấu nướng gì (dù bây giờ vẫn chẳng khá hơn là bao), tôi luôn mang bột quế theo mình, khi vào quán cafe, tôi rắc bột quế vào cafe sữa hoặc sữa tươi, để cái mùi vị mạnh mẽ của quế át đi mùi hăng hăng của thứ đồ uống kém chất lượng mà chủ quán bất chấp đạo đức bán hàng cung cấp cho khách hàng. Đến giờ, khi cái khẩu vị của tôi đã hình thành, tôi vẫn cứ thích vị quế.

Tôi thích cái vị bột quế rắc đầu tiên là khi ăn bánh Tiramisu. Cách làm Tiramisu thông thường không có bột quế. Nhưng hôm đó, một người bạn của tôi tự làm ở nhà, và anh ấy đã rắc bột quế lẫn với bột ca cao lên bánh. Sau đó, vị ngọt của bánh đã qua đi cùng với hơi rượu và phomat mascarpone, nhưng hương vị của quế thì vẫn còn đọng lại, không biết là trong vòm họng hay trong ký ức của tôi. Và từ đó, tôi thích bột quế.

Bột quế  mịn lẫn với bột ca cao rắc lên phần bọt sủi của Capucino hoặc Latte vào một buổi chiều mùa đông sẽ khiến chúng ta có một chút thoảng bâng quơ nhìn ra xa xăm. (Mặc dù ở Tây người ta uống cafe buổi sáng, nhưng với tôi, buổi chiều mới là lúc tôi thức dậy) Vị quế không át cafe, nhưng hương quế len nhè nhẹ trong cổ họng và sống mũi là nở những mao mạch bị lạnh cóng bởi hàn khí mùa đông. Ai có thể nghe thấy tiếng mao mạch đang nở dần ra với hương thơm nồng len lỏi? Tuyệt nhiên, những kẻ vội vã không thể nghe thấy! Lối uống cafe của người Ý, dù pha bằng máy, vẫn không phải lối uống vội vã. Mà thực ra, uống cafe vốn dĩ không phải thứ uống vội vã. Phải từ từ, nhâm nhi, cảm nhận. Sự tỉnh táo không phải đến từ độ đậm đặc của chất kích thích mà đến từ sự cảm nhận tinh tế. Người ta đẻ ra cafe đá không phải để tìm đến sự tỉnh táo trong tĩnh lặng mà cần một cú tát vừa lạnh, vừa đắng, vừa ngọt lừ để lôi họ ra khỏi cảm giác ngái ngủ vì thiếu giấc trong thời đại công nghiệp. Uống cafe cách ấy, chả trách mà đau dạ dày. Capucino thì không nên uống với đá, mà không thể uống với đá, lại càng không nên đựng trong cốc giấy. Capucino nhất thiết phải đựng trong tách gốm hoặc sứ, để làm bật lên màu nâu hoàn hảo phủ lớp bọt trắng như tuyết mùa đông nổi bật lên bột quế lẫn ca cao rắc, lúc thành hình cụ thể, lúc lại như một thiên hà đậm đặc ở giữa và rải rác tinh tú xung quanh. Ít ai biết, tên gọi Capucino xuất phát từ dòng tu Capuchin, vì màu loại cafe này giống màu áo của các thày tu. Nhưng không chỉ đơn giản là màu áo. Những thày tu dòng Capuchin là những người tu hành trong đơn độc và sám hối. Và ngồi bên tách Capuchino, chúng ta cũng nên đơn độc, bởi một lời thốt ra thôi cũng đủ khiến bay đi mất cái cảm giác khoan khoái mất rồi. Các thày tu dòng Capuchin thì đơn độc và sám hối, còn người uống Capucino thì đơn độc và suy nghĩ.

Ở Việt Nam còn có cafe trứng. Trứng đánh bông lên, đổ lên mặt cafe. Loại đồ uống này bắt đầu từ Cafe Gỉảng. Cafe Việt Nam khá đậm vị, không nhẹ như Cafe Ý. Mà trứng đánh bông lên với đường, ở Hà Nội vẫn gọi là kem trứng, thì lại thoang thoảng mùi tanh. Hai thứ đó kết hợp với nhau chẳng ăn nhập gì cả. Người ta bắt chước Capucino, rắc lên ít bột ca cao, không giải quyết vấn đề gì, cafe trứng vẫn cứ rời rạc. Tôi có một gợi ý, hãy rắc quế vào, hoặc đánh bột quế cùng với trứng. Bột quế sẽ át được vị tanh của trứng và có thể khiến kem trứng và cafe ăn nhập với nhau hơn. Nếu với Capucino hay Latte, bột quế làm dậy mùi, thì với cafe trứng Việt Nam, bột quế đóng vai trò như kẻ hàn gắn.

Văn hóa trà Tàu ở Việt Nam không còn kiểu uống trà ấm như trong tập truyện “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân. Giờ đây, người ta uống trà hoa, trà bát bảo. Mà phong trào trà bát bảo cũng thoái trào để thay thế bằng trà sữa chân trâu. Tôi miễn bàn về trà sữa trân châu ở đây, chỉ muốn bàn một chút về trà hoa, trà bát bảo. Bước vào một quán trà Tàu, nhìn vào thực đơn, đủ các loại trà La Hán, trà hoa hồng, trà hoa cúc, trà nhân sâm, trà bát bảo… tôi thật không có hứng thú. Vì trà hoa thì quan trọng ở hương thơm, mà hương thơm trải qua quá trình lưu trữ ở Việt Nam thì chẳng còn mấy. Trà La Hán, trà bát bảo… thì hổ lốn. Nhưng có một loại vẫn có thể gọi: Trà quế chi cam thảo. Trà quế chi cam thảo lấy vị ngọt từ quế và cam thảo chứ không phải đường, và vị cay nồng của các thanh quế được bẻ vụn lẫn với trà, xuyên thấu lên tận não. Buổi tối mùa đông mà uống một tách trà quế chi cam thảo, đọc một cuốn sách có phong vị Á Đông thì thật là tao nhã. Sự tấp nập, vội vã của vòng xoay tiền tài, danh vọng đã khiến người ta quên mất đi cái lối nhẩn nha hưởng thụ, khiến người ta không biết cảm nhận tính thơ ca trong vạn vật. Kẻ cảm nhận được tính thơ ca thì lại không dễ gì chạy đua theo tiền tài, danh vọng, và vì thế lại càng không mấy khi chịu ngồi vào mấy hàng trà Tàu rởm đời nhộn nhạo đám đông, lẫn lộn giữa nhạc trẻ và không gian giả cổ. Thôi cho qua…

Các món ăn của Việt Nam đặc biệt nên có thứ gia vị quế, bởi đa phần món ăn, món nào cũng đậm đà và có mùi đặc trưng. Các nguyên liệu thức ăn của Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc, giống như người Bắc vậy, ai cũng tự khư khư với định kiến riêng của mình. Nếu phối hợp không khéo, thức ăn thức uống sẽ hành hạ từ cái lưỡi đến cái dạ dày của chúng ta, tựa như một cuộc họp của những kẻ khư khư định kiến vậy. Và vị quế là một trong những loại gia vị có đủ khả năng để điều phối, một kẻ điều phối mộc mạc và thẳng tính, một kẻ điều phối độc tài tinh hoa trị.

Thịt bò, sườn lợn, thịt lợn… nướng đều cần có quế. Quế giúp mờ đi mùi tanh của thịt. Riềng mẻ ướp với thịt lợn cũng có thể có tính năng tương tự. Nhưng riềng mẻ sẽ ảnh hưởng đến vị của thịt, không làm nổi bật cái vị ngọt hiếm hoi của thịt lợn (thời này tìm thịt lợn ngon khó lắm). Thịt bò có thể chỉ cần ướp với gừng và tỏi là đỡ tanh. Nhưng hãy tưởng tượng bạn sẽ phải đi gặp người yêu sau khi ăn tỏi? (Đương nhiên, tôi là một kẻ không thích tỏi) Vậy thì tại sao không ướp thịt bò với quế và hoa hồi để nướng, có phải là thơm biết bao nhiêu.  Ăn thịt bò sốt vang, người ta cũng phải cho quế và hoa hồi vào để nấu kia mà. Nhưng bây giờ, ít ai dùng bột quế để tẩm ướp thịt. Đa phần họ dùng túi bột ngũ vị hương, hoặc dầu hào, hoặc sa tế. Thói quen này bắt đầu từ mấy hàng quán bình dân, họ phải dùng những gia vị mặn và nhiều mùi để che giấu chất lượng thịt, sau đó người ăn cũng bắt chước về nhà làm. Dần dần, các loại gia vị này khiến lưỡi bị chai đi, tê liệt vị giác, không còn nếm được thịt ngon và không còn hưởng thụ được hương thơm nữa.

Càng ngày quế càng thiếu vắng trong đời sống. Hồi trước người ta mua những thanh quế về, để trong tủ quần áo để khử mùi, nhưng giờ đã có các loại khử mùi nhân tạo khác. Nếu so quế với băng phiến thì thật là một trời một vực, nhưng người ta vẫn cứ ưa băng phiến hơn. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao. Mà mua một thanh quế đâu phải là đắt.

Quế là loại cây trồng ở xứ nhiệt đới. Ngày xưa Trung Đông  nổi tiếng với cây quế (ngày nay nổi tiếng với IS) Cùng một vĩ độ, Việt Nam cùng với Lào và Campuchia cũng là một vùng trồng quế. Nhưng người Việt Nam ngày nay cũng chẳng mấy ai trồng quế. Chỉ còn vài vùng giáp ranh với Nam Lào và Campuchia như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Ngoài ra còn hai vùng quế nổi tiếng là Yên Bái và Trà Mi ở Quảng Nam. Ở Đông Nam Bộ, từ đất đai đến thời tiết đều thích hợp để trồng quế, nhưng vì lợi nhuận, người ta đã trồng cây cao su và cây cafe. Cũng không trách họ được. Trên thế giới, người ta dùng cao su và cafe nhiều hơn dùng quế. Ngày nay không phải là thời kỳ độc tài tinh hoa trị, mà là thời đại của các phong trào dân chủ. Cho nên, tất cả những gì chỉ để làm đẹp và làm cho sung sướng, mà không ăn no và bổ dưỡng sẽ dần dần bị gạt bỏ và lãng quên. Trong đó có quế, như tôi nói ở trên, đây là loại gia vị theo phong cách độc tài tinh hoa trị.

Một khía cạnh tâm linh thể hiện cho sự độc tài tinh hoa trị của quế, đó là để trừ tà. Hương quế nồng ấm nên tràn đầy dương khí, thanh nhẹ nên lan tỏa khắp không gian. Tinh dầu quế sẽ cứu rỗi không gian sống của chúng ta trong những ngày u ám, âm khí nặng nề. Tiếc là giờ đây chẳng mấy người làm tinh dầu quế. Đàn ông không mấy khi dùng tinh dầu, mà mấy bà mấy cô thì chỉ ưa chuộng tinh dầu sả hoặc mùi, hay những loại tinh dầu hương hoa. Hương quế sẽ khiến căn phòng của bạn sạch những mùi lạ vảng vất, khiến những hạt không khí bẩn, mà người ta gọi là âm khí bị thiêu cháy thành hư không.

Mấy năm nay, Hà Nội nhiều hôm trời u ám đến rợn người. Chúng ta đau đầu, ho khan, hắt xì hơi liên tục… Ma quỷ ngập đường. Không phải vì nhiều oan khí,  mà bởi Việt Nam là mảnh đất tranh chấp của nhiều thế lực tâm linh. Đấy, ai bảo Việt Nam có hình chữ S, giống hình cái xoáy âm dương. Người không tin chuyện ma quỷ thì có thể đổ cho biến đổi khí hậu. Người tin thì sẽ nhận ra những điều tôi nói là không sai. Nhưng dù là biến đổi khí hậu hay ma quỷ, thì chúng ta vẫn cứ mệt mỏi và uể oải. Tôi dùng quế cho những ngày này, vào bất cứ trường hợp nào có thể.

Tô Lông

 

Thịt chó: Không ăn thì thôi

Lớp tôi đang học có một anh bạn người Pháp bằng tuổi. Anh ta sang đây học thạc sĩ theo một chương trình trao đổi sinh viên giữa trường tôi và một trường đại học bên Pháp. Một anh chàng thích trải nghiệm cuộc sống, và tự đặt cho mình cái mục tiêu là đến Việt Nam để du lịch và khám phá là chính, học hành chỉ là phụ. Chả thế mà anh ta sẵn sàng bỏ thi chỉ để tham dự cái lễ hội âm nhạc Quest mới diễn ra tháng trước. Tôi thích cách suy nghĩ này của anh, và cũng nhiệt tình giới thiệu cho anh bạn một vài thứ “hay ho” của mảnh đất mình đang sống.

Thế là tôi nghĩ ngay đến món thịt chó. Cố nhiên tôi chọn món này không phải vì muốn thách thức một người phương Tây ăn thịt chó. Nhưng mà dù gì đi nữa, anh bạn của tôi đồng ý luôn. Anh ta thậm chí còn chia sẻ rằng bản thân cũng muốn nếm thử thịt chó ở Việt Nam, nhưng lí do mà anh chưa ăn là bởi vì đã có một vài người bạn của anh ăn và “review” không mấy tích cực về những quán thịt chó họ từng ghé qua. Đó. Tóm lại vấn đề là không ngon. Hoàn toàn không có một chút gì kiêng kị vì những lí do “văn minh” mà người dân ta vẫn thường cắm rễ trong đầu khi nghĩ đến việc một người phương Tây không bao giờ ăn thịt chó.


Tôi tự đặt câu hỏi tại sao người ta lại phải kiêng ăn thịt con vật này? Bạn có thể chê thịt chó không ngon. Hoàn toàn dễ hiểu. Vì “ngon” là một khái niệm mà người ta có đem ra tranh luận cả đời có lẽ cũng khó mà thủng được. Việc tranh cãi xem thịt chó có ngon hay không, có lẽ nó cũng nan giải không kém gì những chủ đề triết học như kiểu “con gà và quả trứng, cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào”. Nhưng mà lại có những người lên án, thậm chí là mạt sát, phỉ báng những người mê thịt chó, coi họ không khác gì một hạng người man rợ, hoang sơ. Mấy hôm trước tôi cóòn đọc được một bình luận của một người dùng facebook trên trang fanpage “Liên minh ủng hộ ăn thịt chó”, trong đó anh ta ví những người ăn thịt chó là “trái tim các bạn chỉ lưu thông bằng máu đen”. Thật là hình ảnh.


Một trong những cái “lí” đầu tiên (và có lẽ là nhiều nhất) mà tôi được nghe, ấy là: “Chó là một người bạn (thân) của con người”. Hmm… Nói thế này đi, các bạn coi chó là bạn, rất tốt, nhưng tình bạn, hãy khoan nói nó là cái gì, ta hãy thẳng thắn mà xét xem nó không phải là cái gì. Chắc chắn nó không phải thứ mà bạn nói một chiều là xong. Các bạn đặt mình vào vị trí của một con chó và thử nghĩ xem, có thể nào coi con người – chủ của những chú chó – là bạn nổi không? Không có người “bạn” nào bắt một chú chó từ nơi hoang dã, đem về nuôi, ép nó vào khuôn khổ và rồi gọi đó là “thuần dưỡng”! Không có người “bạn” nào xích hay nhốt bạn mình trong một cái chuồng, cả ngày thả ra được vài phút để cho “bạn” đi vệ sinh! Không có người “bạn” nào huấn luyện bạn của mình làm xiếc, diễn những trò nguy hiểm để mua vui kiếm tiền cho bản thân! Chẳng có người “bạn” nào thiến bạn thân của mình để người bạn ấy không đươc hưởng cái lạc thú nguyên thủy nhất! Các bạn có ai chấp nhận bị thiến, để sống thêm được vài năm tuổi thọ hay không, nếu như thiến người cũng có tác dụng như thiến chó? Đương nhiên, không ít người có điều kiện, phải công nhận họ đối xử với chú cún của mình không khác gì một con người thật, từ chuyện ăn uống ngon như người, khám bệnh định kì như người, đến ăn mặc không chỉ để giữ ấm mà còn làm đẹp. Nhưng họ quên mất một điều quan trọng, chó là chó, có cố gắng như vậy cũng chỉ làm nó mất đi cái bản năng, cái thiên tính của chúng mà thôi. Trời sinh ra chó đâu có phải để “làm bạn” với con người? Nó tồn tại trong tự nhiên, trong chuỗi thức ăn như những loài động vật khác, có khác chăng là nó không được may mắn như hươu, nai, chồn, hoẵng… được hưởng tự do bay nhảy trong lãnh địa của mình, chó bị con người đem về để “khai sáng”. Chỉ có thế thôi.


Rồi thì người ta bảo chó “trung thành” với người chủ. Nhưng thế nào là “trung thành”? Ở cái thời buổi này, không ăn cắp của chủ, không cắn lại người nhà, thế là trung thành? Nếu vậy thì đâu có riêng gì chó, nhiều loài vật nuôi làm được lắm. Phải hiểu rằng “trung thành” theo nghĩa đó đơn thuần là một tập tính của loài chó, nó sinh ra đã như vậy, cũng như mặt trời lúc nào cũng mọc ở đằng đông và lặn ở đằng tây. Ngày xưa ông Tố Hữu viết “con chim phải hót, chiếc là phải xanh”. Thì giờ đây cũng như vậy, con chó phải sủa, phải trung thành! Không loại trừ khả năng người ta bị ám ảnh bởi nhiều câu chuyện trung nghĩa của một số con chó (tôi có đọc vài mẩu chuyện như vậy trong Liêu trai chí dị). Nhưng nực cười là ở chỗ, đến con người đây, không biết bao nhiêu kẻ, ngoài mặt thì an hem bằng hữu, sau lưng thì chỉ chực có cơ hội là lật mặt đâm lén. Có bằng con chó đâu? Vậy thì người cũng có người nọ người kia, lấy gì ra đảm bảo rằng con chó nào cũng một lòng với chủ?

Cũng có kẻ kiêng không ăn thịt chó vì chó “thông minh”. Thật ra lí do này gần đây càng ngày càng bớt được viện ra, nhưng không phải là không còn ai nhắc đến. Trước hết phải nói đây là một nhận định hoàn toàn vô căn cứ. Là bởi vì sao? Là vì trí thông minh là một khái niệm vô cùng phức tạp. Riêng việc định nghĩa, phân loại trí thông minh đã là một việc tốn không ít giấy mực của giới nghiên cứu khoa học thần kinh. Cho nên việc đưa ra một bài “kiểm tra” mà qua đó kết luận thẳng thừng là con này khôn hơn con kia, là điều không tưởng ở thời điểm hiện tại. Người ta vẫn nói về những bài kiểm tra IQ, nhưng với tôi thì việc tin vào IQ là một trong những điều ngớ ngẩn nhất mà người ta từng làm. Không có bài kiểm tra nào đánh giá chính xác được thực lực của một người, không phải chỉ riêng chuyện thông minh hay không, mà còn trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Chẳng qua bởi vì cuộc sống vốn dĩ không thể nào có công bằng tuyệt đối, nên dù muốn hay không, người ta vẫn phải nặn ra những bài kiểm tra để phân loại thực lực của các cá thể. Nói đến vấn đề này, bởi vì đầu năm 2015 này, giới khoa học Hoa Kì đã công bố một nghiên cứu cho thấy những chú lợn thông minh không kém gì chó hay có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn tinh tinh. Lợn cũng chia sẻ nhiều khả năng trí tuệ mà người ta chỉ thấy ở cá heo, voi, và thậm chí con người. Ví dụ như lợn của trí nhớ dài hạn (long-term memory) khá tốt, có kĩ năng trong việc tìm lối thoát trong mê cung, và hiểu tương đối nhanh một số kí hiệu ngôn ngữ đơn giản. Đáng ngạc nhiên hơn, lợn còn có khả năng cảm thông với đồng loại, hay phản xạ khác nhau trước âm nhạc của J.S. Bach – một minh chứng cho cảm xúc cao cấp! Nếu như lập luận theo kiểu những người không ăn thịt chó vì chó thông minh, thì chắc không bao lâu nữa, cũng chẳng còn ai ăn thịt lợn!


Mọi vật trên đời, vốn dĩ không mang theo mình một cái giá trị nào. Tất cả những đánh giá, so sánh, bình phẩm… đều là người ta áp đặt cái “tình” của mình vào ngoại vật mà thôi. Ta yêu quý chó, thì ta không muốn ăn thịt nó, thì cũng như chuyện xưa kể một chàng trai si tình, yêu một cô gái bị chột một mắt. Về sau anh ta nhìn thấy mọi người xung quanh, ai cũng thừa ra một con mắt! Ấy là lúc tình cảm lấn át lí trí, tựa như những hạt bụi che mờ tấm gương. Nhưng cớ gì lại khinh bỉ những người có sở thích khác ta? Lại miệt thị họ vì họ ăn cái món mà ta không dám nếm thử? Đó mới là dã man chứ gì nữa! Chỉ có loại người dã man mới công kích người khác chỉ vì họ không cùng quan điểm giống mình, họ không chia sẻ một niềm tin giống như mình. Luôn luôn ta thấy rằng có thứ tôn giáo tôn trọng chó, coi nó như một loài vật “thượng đẳng” thì cũng có những tôn giáo tôn trọng trâu, bò, lợn, chim… tương tự như vậy.

À, lại cũng có những kẻ không thích ăn thịt cho, vì thấy không hợp khẩu vị, tôi nhân tiện đó hoà chung vào lớp người phản đối ăn thịt cho vì lý do “văn minh”, “đạo đức”. Với loại người này thì tôi xin thua. 

Lover